Skip to content.
English Trang chủ » Tin tức » Môi trường » Công nghệ sản xuất bao bì tự hủy: Nghiên cứu thành công nhưng không phát triển sản xuất được do thiếu vốn
Đăng ký?

Công nghệ sản xuất bao bì tự hủy: Nghiên cứu thành công nhưng không phát triển sản xuất được do thiếu vốn

Đó là thực tế xảy ra đối với công nghệ sản xuất bao bì tự hủy của ông Trần Quốc Toản. Sau khi đưa vào ứng dụng thực tế thành công, ông Toản đã phải tạm ngừng sản xuất chỉ với lý do là thiếu vốn. Điều đáng nói là, việc sử dụng bao bì tự hủy thay cho bao bì nylon tái chế hiện đang là giải pháp ưu việt nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

     Cơ sở sản xuất bao bì tự hủy của ông Trần Quốc Toản – đơn vị đầu tiên sản xuất bao bì tự hủy bằng chính công nghệ Việt Nam. Quy trình sản xuất chậu, bầu trồng cây, bao bì tự hủy do ông Toản nghiên cứu và thực hiện khá đơn giản.
      Bã mía chiếm tỷ lệ từ 80%-85%, mụn xơ dừa 14%-19%, phụ gia (thạch cao, nhựa thông…). Toàn bộ nguyên vật liệu này được nghiền thành bột (độ mịn phụ thuộc vào từng loại sản phẩm) phối trộn và đưa vào khuôn ép định hình sản phẩm, phơi sấy rồi đưa vào sử dụng. Việc cho phụ gia nhiều hay ít sẽ quyết định thời gian phân hủy của sản phẩm là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng hay 1 năm…
     Thực tế cho thấy, các sản phẩm chậu hoa, bầu trồng cây tự hủy có độ bền cao, có thể tích trữ lại lượng nước thừa trong thành chậu (qua đó giảm được lượng nước tưới). Sau khi ươm, bộ rễ cây không bị ảnh hưởng, có thể để nguyên cả chậu trồng xuống đất bởi sau 1 đến 3 tháng (tùy nhu cầu sử dụng), chậu sẽ tự phân hủy thành đất mùn.
     Chỉ cần đầu tư khuôn, dây chuyền sản xuất, thứ bột mịn từ nguyên liệu mụn xơ dừa, bã mía, nhựa thông… có thể ép thành các sản phẩm chậu, bầu trồng cây, hoa kiểng, các loại bao bì đựng các linh kiện điện tử, kim khí, điện máy, hộp đựng trái cây, túi xách (thay thế cho các loại mốp xốp, nhựa thường dùng hiện nay).
      Các loại sản phẩm này chịu được nhiệt độ từ - 100C tới 1100C, có thể tái sử dụng nhiều lần do ưu điểm dai, bền… được nhiều đơn vị trồng hoa ở Đà Lạt ưa chuộng. Các thị trường Tây Âu, Bắc Mỹ phản hồi những tín hiệu lạc quan đối với loại sản phẩm này.
      Việc đưa vào ứng dụng loại sản phẩm này sẽ giải quyết vấn nạn sử dụng bì nylon đang bùng phát hiện nay trên địa bàn Tp. HCM nói riêng và cả nước nói chung, cải thiện đáng kể hiện trạng ô nhiễm môi trường.
     Công nghệ này được nghiên cứu thành công từ năm 2006. Ban đầu sản xuất quy mô nhỏ tại quận 9 (Tp. HCM) với công suất 10.000 sản phẩm/tháng, cung cấp chủ yếu cho các nhà vườn tại Đà Lạt. Tuy nhiên, đến năm 2007, cước phí vận chuyển nguyên liệu từ đồng bằng sông Cửu Long tăng cao, sản phẩm không thể cạnh tranh nổi với chậu, bầu trồng cây bằng nhựa tái chế nên cơ sở đành phải di dời cơ sở sản xuất xuống huyện Mỏ Cày, tỉnh Bến Tre.
      Không chỉ vậy, hoạt động sản xuất của cơ sở cũng chỉ tồn tại thêm một thời gian ngắn do vốn chỉ đủ đầu tư mặt bằng nhà xưởng. Do thiếu vốn nên máy móc đành nằm dài chờ đường điện 3 pha kéo về; nguyên liệu thô chất đống chờ ngày tự hủy thành mùn; các doanh nghiệp đặt hàng nản lòng vì phải chờ đợi… Hiện cơ sở cần khoảng 1 tỷ đồng để đầu tư máy móc, dây chuyền, kéo đường điện 3 pha… Nhưng đến giờ vẫn chưa có đơn vị nào hỗ trợ cho vay.
     Trong hoàn cảnh đó, cơ sở đành hoạt động cầm chừng bằng cách dùng nguyên liệu “tồn kho”, pha trộn phân vi sinh, chuyển sang sản xuất đất sạch cung cấp cho thị trường Tp. HCM. Lợi thế của sản xuất đất sạch là vốn ít, dễ sản xuất, nhu cầu lớn… Tuy lãi thấp nhưng cần phải duy trì sản xuất …
     Việc hỗ trợ đầu tư cho công nghệ này là chính đáng, góp phần tích cực để bảo vệ môi trường, nhất là khi Quỹ Bảo vệ môi trường Bộ Tài nguyên và Môi trường đang sở hữu nguồn vốn lên đến 500 tỷ đồng dành cho các hoạt động hỗ trợ đầu tư, phát triển sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường.

Nguồn: "Báo SGGP", 26/8/2008


Số lần truy cập từ 08/10/2003: